Khung pháp lý về bảo tồn voi

Khung pháp lý bảo tồn voi tại Việt Nam: từ cam kết đến hành động

Voi châu Á là một trong những loài động vật hoang dã nguy cấp nhất tại Việt Nam. Trước sự suy giảm mạnh của quần thể voi ngoài tự nhiên, Việt Nam đã xây dựng và liên tục cập nhật hệ thống pháp luật để bảo vệ loài động vật biểu tượng này. Các quy định hiện nay không chỉ cấm săn bắt, giết hại, vận chuyển, buôn bán voi trái phép, mà còn quản lý chặt chẽ mẫu vật, sản phẩm có nguồn gốc từ voi, hoạt động cứu hộ, tái thả và thực thi Công ước CITES.

Voi thuộc nhóm được bảo vệ nghiêm ngặt

Việt Nam bảo vệ voi từ rất sớm. Năm 1960, Chỉ thị 134/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã cấm bắn voi và đặt nền móng cho công tác bảo vệ loài này. Năm 1992, Nghị định 18-HĐBT đưa voi vào nhóm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có chế độ bảo vệ cao nhất. Đây là những dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp lý về bảo tồn voi tại Việt Nam.

Trong hệ thống hiện hành, Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Luật Đa dạng sinh học năm 2008 tiếp tục tạo nền tảng pháp lý chính cho bảo vệ loài nguy cấp, quý, hiếm và sinh cảnh của chúng. Nghị định 06/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 84/2021/NĐ-CP, quy định việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước CITES. Đây là nhóm văn bản trực tiếp liên quan đến quản lý các loài như voi, các sản phẩm từ voi và mẫu vật thuộc CITES.

Cập nhật mới: quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm và thực thi CITES

Từ năm 2025-2026, hệ thống văn bản hướng dẫn tiếp tục được cập nhật. Thông tư 27/2025/TT-BNNMT quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm; nuôi động vật rừng thông thường và thực thi Công ước CITES, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Sau đó, Thông tư 85/2025/TT-BNNMT được ban hành ngày 31/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tiếp tục quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi CITES.

Những văn bản này giúp cập nhật danh mục, tiêu chí, nguyên tắc quản lý và yêu cầu về nguồn gốc hợp pháp đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm. Với loài voi, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì mọi hoạt động khai thác, lưu giữ, vận chuyển, trưng bày, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu mẫu vật đều phải tuân thủ quy định nghiêm ngặt và không được gây tác động tiêu cực đến sự tồn tại của loài trong tự nhiên.

Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm

Pháp luật Việt Nam áp dụng cả chế tài hành chính và hình sự đối với hành vi xâm hại voi. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Nghị định 35/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính và đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 07/2022/NĐ-CP quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp và mức xử phạt tương ứng.

Đối với các hành vi nghiêm trọng, Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, quy định tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Các hành vi như săn bắt, giết, nuôi nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ, nhóm IB hoặc phụ lục I của CITES có thể bị xử lý hình sự. Riêng hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép ngà voi cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đạt các ngưỡng luật định.

Những hành vi liên quan đến voi bị nghiêm cấm hoặc kiểm soát chặt chẽ

  • Săn bắt, bẫy bắt, giết hại hoặc gây thương tích cho voi trái pháp luật.

  • Nuôi, nhốt, vận chuyển, mua bán, tàng trữ voi hoặc mẫu vật từ voi không có nguồn gốc hợp pháp.

  • Mua bán, vận chuyển, tàng trữ ngà voi, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm có nguồn gốc từ voi trái quy định.

  • Xâm hại sinh cảnh, chia cắt vùng sống hoặc cản trở hoạt động bảo tồn voi trong các khu vực có voi phân bố.

  • Xuất khẩu, nhập khẩu, trưng bày, trao đổi, tặng cho mẫu vật voi không tuân thủ quy định CITES và pháp luật Việt Nam.

Khung pháp lý gắn với cam kết quốc tế

Việt Nam là thành viên của CITES và đã xây dựng các quy định trong nước để thực thi công ước này. Việc quản lý chặt chẽ ngà voi, mẫu vật voi và các hoạt động thương mại quốc tế liên quan đến động vật hoang dã giúp Việt Nam thực hiện trách nhiệm quốc tế, đồng thời hỗ trợ nỗ lực ngăn chặn buôn bán động vật hoang dã trái phép.

Các quy định về bảo tồn voi cũng gắn với Công ước Đa dạng sinh học (CBD), trong đó nhấn mạnh bảo tồn loài trong chính sinh cảnh tự nhiên. Với voi, bảo vệ loài không thể tách rời bảo vệ rừng, hành lang di chuyển, nguồn nước và các vùng sinh cảnh quan trọng.

Từ bảo vệ loài đến chung sống hài hòa với voi

VECAP 2022, được phê duyệt theo Quyết định 2958/QĐ-BNN-LN ngày 28/8/2024, đặt mục tiêu bảo tồn voi đến năm 2035, tầm nhìn 2050. Kế hoạch này không chỉ nhấn mạnh bảo vệ voi hoang dã, mà còn đề cập đến quản lý xung đột voi - người, cải thiện sinh cảnh, nâng cao năng lực nghiên cứu, cứu hộ, giám sát và tăng cường phúc lợi cho voi nuôi nhốt.

Một điểm quan trọng mà VECAP 2022 nêu ra là nhu cầu hoàn thiện cơ chế hỗ trợ người dân bị thiệt hại do xung đột voi - người. Nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời, xung đột có thể leo thang và gây rủi ro cho cả người và voi. Vì vậy, khung pháp lý trong giai đoạn tới cần kết hợp giữa bảo vệ nghiêm ngặt loài voi và hỗ trợ cộng đồng sống trong vùng có voi phân bố.

Dòng thời gian pháp lý về bảo tồn voi tại Việt Nam

Năm Văn bản / nội dung chính
1960 Chỉ thị 134/CT-TTg: cấm bắn voi và đặt nền móng cho công tác bảo vệ voi.
1992 Nghị định 18-HĐBT: đưa voi vào nhóm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có chế độ bảo vệ cao.
2008 Luật Đa dạng sinh học: tạo nền tảng bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm và sinh cảnh.
2013 / 2019 Nghị định 160/2013/NĐ-CP về loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nghị định 64/2019/NĐ-CP sửa đổi Điều 7 và cập nhật danh mục.
2017 Luật Lâm nghiệp: củng cố quy định bảo vệ rừng, động vật rừng và nghiêm cấm các hành vi xâm hại trái pháp luật.
2019 / 2021 Nghị định 06/2019/NĐ-CP về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi CITES; Nghị định 84/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 06.
2019 / 2022 Nghị định 35/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; Nghị định 07/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung.
2024 Quyết định 2958/QĐ-BNN-LN phê duyệt VECAP 2022 - Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn voi đến năm 2035, tầm nhìn 2050.
2025 / 2026 Thông tư 27/2025/TT-BNNMT và Thông tư 85/2025/TT-BNNMT cập nhật quy định quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm và thực thi CITES; Thông tư 85 có hiệu lực từ 01/01/2026.

Nguồn văn bản cần đối chiếu khi xuất bản

Rà soát cơ sở pháp lý về bảo tồn voi cho thấy:

  • Bảo vệ và bảo tồn voi là chính sách thống nhất của nhà nước Việt Nam, được thể hiện từ rất sớm trong các văn bản pháp quy cấp cao nhất của Việt Nam. Các văn bản pháp lý được xây dựng một cách thống nhất và có tính kế thừa cao;

  • Bảo tồn voi được quy định trên cơ sở bảo tồn các nhóm loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, trong đó voi thuộc nhóm có quy chế bảo tồn cao nhất. Quy chế bảo tồn này rất nghiêm ngặt và phù hợp với các quy định trên thế giới, bao gồm cả các công ước quốc tế mà Việt Nam hiện là thành viên;

  • Các hành vi vi phạm hành chính về bảo tồn voi có hình phạt cao và nghiêm khắc;

  • Các quy định này tạo ra một khung pháp lý đầy đủ cho công tác bảo tồn loài voi.

Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát ở các địa phương hiện có voi phân bố, xuất hiện nhu cầu phải có một quy định rõ ràng cho chính sách hỗ trợ người dân bị thiệt hại do voi xuất hiện tại khu vực con người sinh sống hoặc canh tác bởi nếu không có chính sách hỗ trợ kịp thời, tình trạng xung đột voi – người có thể bùng phát ở mức độ nghiêm trọng; nhu cầu phải có cơ chế khuyến khích cán bộ/nhân viên làm công tác bảo tồn các loài nguy cấp, trong đó có loài voi cũng được nhiều địa phương đề xuất. Ngoài ra, mặc dù nhiệm vụ giám sát môi trường đã được quy định tại Luật Lâm nghiệp 2017 nhưng việc thúc đẩy nhiệm vụ giám sát loài voi nên được quy định rõ ràng trong một văn bản pháp quy phù hợp để các cơ quan quản lý bảo tồn voi có cơ sở để triển khai các hoạt động ưu tiên.

  • Chỉ thị 134/CT-TTg năm 1960; Nghị định 18-HĐBT năm 1992.

  • Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Luật Lâm nghiệp năm 2017.

  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Nghị định 64/2019/NĐ-CP.

  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP.

  • Nghị định 35/2019/NĐ-CP và Nghị định 07/2022/NĐ-CP.

  • Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

  • Thông tư 27/2025/TT-BNNMT và Thông tư 85/2025/TT-BNNMT.

  • Quyết định 2958/QĐ-BNN-LN phê duyệt VECAP 2022.